Hiển thị các bài đăng có nhãn thăng long. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thăng long. Hiển thị tất cả bài đăng

22 thg 8, 2008

Nhà thờ lớn Hà Nội

Đầu tiên, nhà thờ này có tên là Nhà thờ Thánh Giuse (Saint Joseph) sau mới gọi là Nhà Thờ Lớn (còn có tên gọi : Nhà thờ Chính tòa Hà Nội).
Nhà thờ lớn khánh thành vào lễ Giáng sinh năm 1887, vì ít tiền nên nó được xây bằng gạch, vôi, ... những vật liệu địa phương rẻ tiền, cũng như nhiều nhà thờ khác ở VN, nó đã được bản địa hóa bằng các chi tiết trang trí chạm trổ, sơn son thếp vàng mang đậm nét Việt. Tất nhiên nó cũng được làm theo kiểu Gô tích , nhưng không kỹ càng và chi tiết như ở Châu Âu.
Các công trình tôn giáo thể hiện rất rõ nét tiến trình văn hóa của một dân tộc. Thời Lý với sự phát triển của đạo Phật. Đến thời Nguyễn thì đạo Thiên Chúa phát triển mạnh mẽ, đương nhiên khi người Pháp vào Việt Nam thì sẽ khẳng định văn minh của mình ở xứ thuộc địa. Họ đã cho phá bỏ chùa Báo Thiên, một biểu tượng của Phật Giáo Việt Nam thay vào đó bằng Nhà Thờ Lớn.
Cafe ở đây được nghe chuông nhà thờ, và nghe thêm Bài Thánh ca buồn nữa thì...
"Bài thánh ca đó còn nhớ không em
Noel năm nào chúng mình có nhau
Long lanh sao trời đẹp thêm môi mắt
.."



Nếu bạn hỏi người trong ảnh, ông nắm rất rõ lịch sử Nhà Thờ Lớn













Vị trí của Nhà Thờ Lớn trong quần thể

Tượng thánh nữ tử vì đạo Anê Lê Thị Thành
Tên gọi Gô tích có lẽ bắt nguồn từ chữ Goths - xứ Gốt (tham khảo thêm wiki), để chỉ kiểu kiến trúc có vòm cửa nhọn, mái vòm cuốn, tháp nhọn nói chung.







Hình ảnh nội thất một kiến trúc Gô tích điển hình


18 thg 7, 2008

CHIẾU DỜI ĐÔ - Lý Công Uẩn



Lá đề thời Lý
Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng tự tiện dời đô. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh. Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời.
Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?

Bản phiên âm Hán-Việt:

"Tích Thương gia chí Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương tam tỉ. Khởi Tam Đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn thế tử tôn chi kế; thượng cẩn thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ. Nhi Đinh Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng đạo Thương Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tính hao tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc bất tỉ.
Huống Cao Vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực chi trung; đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông Tây chi vị; tiện giang sơn hướng bối chi nghi. Kỳ địa quảng nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt hôn điếm chi khốn; vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi yếu hội; vi vạn thế đế vương chi thượng đô.
Trẫm dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như hà? "

Thiên đô Chiếu bản Hán văn
遷 都 詔
昔 商 家 至 盤 庚 五 遷 , 周 室 逮 成 王 三 徙 。 豈 三 代 之 數 君 俱 徇 己 私 妄 自 遷 徙 ? 以 其 宅 中 圖 大 , 為 萬 憶 世 子 孫 之 計 。 上 謹 天 命 下因 民 願 , 苟 便 輒 改 , 故 國 祚 延 長 , 風 俗 富 阜 。 而 丁 黎 二 氏 乃 徇 己 私 ,忽 天 命 , 罔 蹈 商 周 之 跡 , 常 安 厥 邑 于 茲 ; 致 世 代 弗 長 , 算 數 短 促 , 百 姓 耗 損 , 萬 物 失 宜 。 朕 甚 痛 之 , 不 得 不 徙 。 況 高 王 故 都 大 羅 城 , 宅 天 地 區 域 之 中 , 得 龍 蟠 虎 踞 之 勢 , 正 南 北 東 西 之 位 , 便 江 山 向 背 之 宜 ; 其 地 廣 而 坦 平 , 厥 土 高 而 爽 愷 , 民 居 蔑 昏 墊 之 困 , 萬 勿 極


Đền thờ các vua Lý

Đầu rồng, phượng thời Lý

Các viên gạch ghi niên đại thời Lý

Địa điểm khảo cổ hoàng thành Thăng Long

Chú giải:
1.Năm lần dời đô: Vua Thang (Thành Thang) đóng đô ở phía đông nam huyện Thương Khâu (thuộc tỉnh Hà Nam bây giờ). Trọng Đinh dời đô đến huyện Thành Cao (thuộc tỉnh Hà Nam). Hà Đản Giáp đời đô đến phủ Chương Đức (cũng thuộc tỉnh Hà Nam).Tổ Ất dời đô đến phủ Thuận Đức (tỉnh Hà Đông bây giờ). Bàn Canh dời đô đến huyện Yên Sư (hay Ân Sư thuộc tỉnh Hà Nam)
2.Ba lần dời đô: Chu Văn Vương đóng đô ở phía đông tỉnh Thiểm Tây. Chu Vũ Vương dời đô đến huyện Tương Yên (tỉnh Thiểm Tây). Chu Thành Vương dời đô đến huyện Lạc Dương (tỉnh Hà Nam).
3.Thời Tam Đại: Ba nhà Hạ, Thương, Chu trong lịch sử Trung Quốc.
4.Cao Biền: Quan đô hộ Giao Châu của nhà Đường vào khoảng các năm 864-875. Cao Biền đắp thêm thành Đại La vào khoảng năm 866.